Thursday, March 10, 2016

Các thầy cô nếu gặp oan gia, nên nghĩ rằng nghiệp quá khứ này đã trả rồi và lòng cảm thấy nhẹ. Như vậy, chắc chắn người gây sự sẽ đến xin lỗi; nếu không xin lỗi, họ cũng cảm thấy áy náy và người ngoài sẽ nhận xét rằng thầy đó tu thiệt, không phản ứng lại, nghĩa là họ bênh vực mình, hay để cho người khác nói thay mình.
Tôi đọc từng câu kinh, thấm thía để vô lòng, làm bài học suy cứu. Trong kinh Bảo Tích, Phật dạy Văn Thù Bồ-tát rằng nếu ma vương nói xấu thì đừng đính chính, để ma phải tự nói lại. Phật bảo Văn Thù, nhưng tôi suy nghĩ ý này của Phật dạy để áp dụng cho mình. Khi gặp điều ngang trái, khó khăn, thì Văn Thù là trí, mình dùng trí quán sát, để người nói sai tự nói lại, mắc chi mình đính chính.
Phật thuyết pháp, có nhiều đề tài để chúng ta tự suy nghĩ, chứng lấy, là Tỳ-kheo đem pháp vô lòng để nuôi giới thân huệ mạng bên trong. Tỳ-kheo mà thiếu giới thân huệ mạng thì chỉ còn cái xác, không còn hồn. Hồn Tỳ-kheo rất quan trọng, là quả vị La-hán, hay lấy giới làm thân, trí tuệ làm mạng, thể hiện thành tám điều lành (Bát chánh đạo) là vị Thánh. Trong mùa an cư, thực tập được như thế mới thể hiện tư chất của người xuất gia. Trái lại, an cư nhưng không được pháp phần nào, quả là uổng phí đời tu.
Riêng tôi, nhờ trải qua hơn sáu mươi năm, trầm mình trong giáo pháp Như Lai và thể hiện trong cuộc sống tu hành, mới làm được một số việc lợi lạc cho đạo.
Mỗi mùa an cư, chúng ta ở yên một chỗ, tu khép kín và gặt hái được kết quả nhiều hơn là những tháng khác phải tiếp xúc bên ngoài. Nhưng vì lợi ích cho số đông, chúng ta có mở ra. Thí dụ trước kia tôi nhận trọng trách Trưởng ban Hoằng pháp, tôi nghĩ đến mùa an cư phải ở một chỗ để tu. Hòa thượng Trí Thủ đã khai thị tôi rằng trong mùa an cư, Tăng Ni tập trung một chỗ tu học, nếu thầy không dạy, thì hết mùa an cư, thầy giảng cho ai. Từ đó, tôi có thay đổi. Đến mùa an cư, tôi chuẩn bị hành trang đi thăm các trường hạ, trải qua hai mươi mùa hạ, tôi không ở yên một chỗ. Và tôi đã tập hợp tất cả những bài giảng cho Tăng Ni trong hai mươi mùa an cư (1994-2014) ghi lại những kinh nghiệm hoằng pháp của tôi trên mọi nẻo đường đất nước, từ Nam ra Trung đến miền Bắc, cho đến những vùng ngoại đạo đều có những pháp tương ưng. Tôi xin tặng bộ sách Hai mươi mùa an cư đến Tăng Ni trường hạ tỉnh nhà để quý vị có thể làm tài liệu tham khảo trên bước đường hoằng pháp lợi sanh.
Thiết nghĩ đối trước những hoàn cảnh khác nhau, pháp Phật tất yếu phải ứng dụng khác nhau, gọi là phương tiện huệ của người tu rất quan trọng. Theo Phật, không nên chấp pháp cố định nào. Kinh nghiệm quý báu này tôi đã trải qua.
Suốt một đời hành đạo, tôi suy nghĩ từ Phật giáo Nguyên thủy đến Phật giáo Phát triển và Phật giáo Đại thừa, tôi nhận thấy người tu pháp môn nào thường ôm chặt pháp môn đó và coi pháp khác đối lập. Riêng tôi luôn nghĩ từ thời pháp ở Lộc Uyển đến thời pháp cuối cùng Phật Niết-bàn, làm sao đây là con đường xuyên suốt để chúng ta nắm bắt. Vì vậy, tôi dành nhiều thì giờ đọc Kinh tạng Nikaya và các kinh điển Đại thừa, đọc hết, không bỏ sót. Và khi ngồi yên suy nghĩ, tôi nhận ra cái thống nhất, hóa ra đó là điều Phật dạy trong kinh Pháp hoa qua thí dụ rằng chỉ có đất sét, nhưng tùy theo nhu cầu của người dùng mà người thợ nặn ra cái nồi, cái lu, cái bình… Cũng vậy, tùy theo căn cơ, trình độ, nghiệp lực của con người mà Phật chỉ dạy các pháp khác nhau.
Vì vậy, đừng cố chấp. Bản chất của pháp tu là giúp chúng ta giải thoát, nhưng phương tiện sử dụng thì có vô số pháp. Có cái nhìn tổng hợp, từ kinh điển Nguyên thủy phát triển lên thành kinh điển Đại thừa. Cũng như từ một người, nhưng khi họ phát tâm vào đạo khác với lúc họ tu hành có tiến bộ và cho đến khi ngộ đạo, đắc đạo còn khác nữa; không phải lúc nào sở tu, sở đắc của mình cũng vậy. Trí tuệ của chúng ta phát triển lần, tầm nhìn phải mở rộng hơn chứ.
Đọc kinh Nguyên thủy, có năm mươi công tử dòng họ Da Xá xuất gia, chỉ qua một mùa an cư, tất cả những người này đều đắc La-hán. Bấy giờ, Phật tuyên bố các thầy đắc đạo rồi, không nên ở chỗ này nữa. Mỗi thầy đi một hướng làm lợi ích cho số đông, làm an lạc cho chư Thiên và loài người. Không nên ở Lộc Uyển mãi.
Ở giai đoạn đầu, Phật bảo các thầy phải ở yên một chỗ để tu, đừng đi, phải thực hành pháp Phật cho đắc Thánh quả. Thực hiện đúng theo Phật dạy như vậy sẽ gặt hái kết quả tốt đẹp. Nhưng đắc Thánh quả rồi, mà ngồi yên một chỗ, thì uổng công tu, cho nên mỗi thầy phải đi một hướng để giáo hóa độ sanh. Nếu không hiểu ý Phật dạy, chưa đắc La-hán, mà mỗi thầy đi một hướng hành đạo thì làm được gì, thậm chí đi vào vùng ngoại đạo sẽ bị mất mạng.
Nhưng ngộ đạo, chứng đạo, đắc quả vị La-hán, có trí tuệ chỉ đạo, phải có suy nghĩ. Tôi hoằng pháp thành công cũng nhờ có trí tuệ chỉ đạo, suy nghĩ nên đi đến chỗ nào giáo hóa. Phật dạy rằng nên tới chỗ nào có duyên với mình. Phật cũng chỉ độ được người có duyên.
Bát quái có tám cửa, đi vào cửa sống thì sống, đi vào cửa chết phải chết. Tôi nhớ năm 1975, Hòa thượng Thiện Hòa gọi tôi vô, nói rằng ngài nằm mơ thấy trước cửa Tổng vụ Thanh niên, ai đó đã cắm tấm bảng "Tử lộ”. Tôi đã nhổ bỏ cái bảng này và cắm vào tấm bảng "Sanh lộ”. Hòa thượng chỉ nói như vậy thôi.
Sau đó, Hòa thượng Trí Thủ kêu tôi vào Viện Hóa đạo, bảo rằng Thầy Giác Đức đã vượt biên, vậy Trí Quảng làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên. Từ giấc mơ của Hòa thượng Thiện Hòa và lời dạy của Hòa thượng Trí Thủ, tôi làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên, cho đến năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam hình thành, tôi mới chuyển qua làm công việc hoằng pháp.
Tôi suy nghĩ khi đất nước độc lập, đương nhiên sinh hoạt thanh niên theo hướng cũ phải chấm dứt, thì đó là ý nghĩa của tấm bảng "Tử lộ”. Vì lúc đó, thành phố Hồ Chí Minh có Ban Quân quản do Thượng tướng Trần Văn Trà lãnh đạo, đã chỉ thị rằng các đoàn thể cũ giải tán. Điều này không phải chấm dứt là gì.
Muốn tồn tại, tôi suy nghĩ phải có sinh hoạt theo hướng mới, theo hướng cũ không được chấp nhận. Vì vậy, việc làm của tôi lúc bấy giờ là điều gì Nhà nước chấp nhận, cho phép thì làm. Chế độ mới tất nhiên có luật mới và chúng ta theo đó hành đạo. Luật mới, hay con đường sống của chúng ta là khi luật pháp, Hiến pháp thay đổi, chúng ta không thay đổi không được. Cấm mà làm thì ở tù, nhưng cho làm mà không làm là đánh mất cơ hội. Khi cho phép Tăng Ni tập trung tu học, chúng ta không làm quả là uổng. Thiết nghĩ có trí tuệ chỉ đạo, chắc chắn chúng ta phải làm được điều tốt đẹp.
Phật nói mỗi người đi hành đạo một hướng, có trí tuệ chỉ đạo, thấy chỗ có duyên thì đến. Còn nghe nói đi thì cứ đi là vào cửa tử, không tồn tại. Thật vậy, có người từ thành phố Hồ Chí Minh lên Bình Phước, làm nên sự nghiệp. Có thầy cũng đi, nhưng vô cửa tử.
Các thầy cô đến đây, phát tâm vô vùng sâu, nên coi hành trang của mình chuẩn bị có hay không. Hành trang là gì. Hành trang là chỗ đó có nhu cầu, mình đáp ứng được thì đến, họ hoan nghinh mình; nếu không đáp ứng được, chắc chắn họ không chấp nhận. Thí dụ mình tốt nghiệp tiến sĩ, lên đây hành đạo, nhưng Hòa thượng Trưởng ban Trị sự tỉnh nói rằng ngài không cần tiến sĩ, thì làm sao các thầy lãnh đạo Phật tử nơi đây yên ổn. Không đáp ứng được yêu cầu của địa phương là phiền não phát sinh cho mình và cho người.
Thầy tu đi hành đạo là phải đi đúng chỗ. Phật có mười Đại đệ tử, Ca Diếp giàu có, nhưng bỏ đi tu và chọn con đường khổ hạnh, ăn mặc rách rưới và sống rất đơn sơ, thì đến hóa độ người nghèo, họ mới chấp nhận.
Lên Bình Phước là tỉnh còn nghèo, đa số là người dân tộc. Các thầy cô phải biết phong tục, tập quán của người dân tộc, biết họ muốn gì, làm được gì, theo đó hướng dẫn, họ mới nghe theo.
Phật giáo là đạo trí tuệ, nhưng mình quên điều này. Người dân tộc cần thực phẩm, nhưng mình khất thực, bảo họ cho mình ăn, họ sẽ không chấp nhận. Các mục sư Tin Lành biết họ thiếu thốn, nên tập hợp họ cho gạo, cho thức ăn..., cho đồ chơi cho trẻ con. Tôi quen một mục sư, ông nói rằng tu sĩ Phật giáo học nhiều, nhưng không dùng vô đâu được! Câu nói này khiến chúng ta phải suy nghĩ. Đạo Tin Lành huấn luyện một mục sư làm một việc là chỉ biết cầu nguyện, vì theo họ, cầu nguyện là nhu cầu của xã hội. Đem bằng tiến sĩ lên tỉnh này thì không thành công, chỉ cần chuông mõ để cầu an, cầu siêu, lại có quần chúng, vì dân tộc nơi đây chỉ biết cầu Trời phò hộ cho họ bánh, gạo. Đáp ứng yêu cầu này thì họ theo.
Nếu các thầy cô tốt nghiệp tiến sĩ ở Ấn Độ về, nên đến xin làm việc ở Viện Nghiên cứu Phật học, thành phố Hồ Chí Minh, thì tôi giao công tác, vì tôi đang cần người có học vị; còn vác bằng cấp lên vùng dân tộc để làm gì. Tới địa phương nào phải hội nhập sinh hoạt nơi đó. Nếu tôi lên tỉnh này, cũng phải trồng khoai, cuốc đất để gần gũi mọi người, Phật dạy đó là đồng sự nhiếp, việc làm của mình và họ không khác nhau.
Kinh Pháp hoa diễn tả ý này là ông trưởng giả cởi chuỗi anh lạc, mặc áo thô rách, tay cầm đồ hốt phân để gần gũi cùng tử. Xưa kia, Đức Phật từ ngôi vị thái tử mà từ bỏ, Ngài làm Sa-môn sống gần những người tu khổ hạnh để dìu dắt họ trở về Phật đạo. Ban đầu, các người ngoại đạo nhìn Phật nghi ngờ rằng ông này là thái tử thì chịu cực khổ được mấy ngày. Nhưng khi thấy Phật nhịn đói đến độ da bụng dính với xương sườn là Phật khổ hạnh hơn họ, họ mới nghe theo.
Các thầy cô vô Bình Phước cần hành trang là sức khỏe tốt, biết lao động giỏi và quý vị làm giúp họ, chắc chắn họ dễ nghe theo. Điều này tôi đã thực hiện từ hơn sáu mươi năm trước. Lúc đó, tôi ở tu với một thầy trong am tranh. Ông gốc nông dân, nên trồng bầu, mướp, cây ăn trái cho quả rất nhiều. Ông nói rau quả nhiều quá, làm sao ăn hết, mới bàn với tôi nên xuống xóm kêu họ lấy về ăn, hay hai thầy trò chịu cực gánh xuống xóm cho dân làng. Cuối cùng, chọn giải pháp thứ hai, vì kêu họ lên lấy, chưa chắc họ đi, xuống xóm năn nỉ các ông bà giúp giùm. Cho họ ăn mà phải năn nỉ ăn giùm, khiến họ có ý niệm tốt về người tu, từ đó, họ có gì thì đem lên chùa cho. Đến mùng một, rằm, họ cũng lên chùa cúng, đó là giáo hóa không cần gì, chỉ cần gần gũi, cảm thông họ, họ sẽ thương mình. Tình người phải có trước là như vậy.
Phật dạy mỗi người đi hành đạo một hướng là theo hướng tâm linh, theo định hướng nguyện của mình mà đi, không phải một ông đi Đông, một ông đi Tây rồi chẳng làm được gì. Xưa kia, Ca Diếp cởi áo sang trọng, mặc áo thô rách để sống gần gũi người nghèo mà độ họ. Nhưng Ca Chiên Diên là cháu của Tiên nhân A Tư Đà, ông là nhà chiêm tinh giỏi, nên ông đi vào vùng mà người ta tin vào ngày lành tháng tốt, tin vào những việc mà người bình thường không biết được. Ông chỉ dạy họ giải quyết được những thắc mắc, khó khăn một cách dễ dàng, nên họ nể phục, theo ông để có được cuộc sống bình an.
Theo Phật, mỗi người hành đạo chọn một hướng và suy nghĩ xem nên làm gì. Ở Đồng Xoài, Đồng Phú, tất nhiên việc làm phải khác với Hà Nội, Sài Gòn. Chọn vùng có người dân tộc, dĩ nhiên phải biết tiếng dân tộc và đáp ứng được yêu cầu của họ, mới có thể đem đạo vào đời, làm đẹp cho đời.
Bài học đầu tiên của Phật dạy, mười Đại đệ tử vẫn làm theo. Thí dụ Phú Lâu Na chọn thuyết pháp. A Nan chọn con đường học rộng nghe nhiều, ngài nghe Phật nói, ghi nhớ đầy đủ không sót. Khi Ca Diếp yêu cầu kiết tập lời Phật dạy, nhờ trí nhớ siêu tuyệt của A Nan, chúng ta mới có tạng kinh Nikaya.
Mỗi người một hướng, mỗi người một việc, không giẫm chân lên nhau. Nếu mỗi người cùng một hướng sẽ đụng chạm, không lợi cho mình cũng không giúp được ai, gây ra tranh chấp.
Chọn đúng hướng, đúng việc và theo khả năng, theo nguyện, lần lần chúng ta cùng đi lên, cuối cùng cũng gặp nhau ở một điểm là Niết-bàn, có Đức Phật Thích Ca hiện hữu.
Cầu mong tất cả quý thầy cô đều đi đúng hướng của mình, thành tựu việc làm theo sở nguyện, để Phật pháp còn mãi trên nhân gian làm lợi lạc cho tất cả mọi người. l

 


Saturday, February 27, 2016

Quy Sơn cảnh sách văn - hoavouu.com

hoavouu.com/a3776/quy-son-canh-sach-van
Bài văn này được thiền sư Quy Sơn Linh Hựu viết ra nhằm sách tấn việc tu học của đồ chúng, ... xa lìa tham sân si.

Tuesday, February 2, 2016

Trong 45 năm truyền giảng con đường giải thoát, Đức Phật thu nhận rất nhiều đệ tử, có người xuất gia theo ngài và lập thành Tăng đoàn (Sangha), có người cũng còn tại gia, gọi là các cư sĩ. Vùng truyền giáo của ngài là vùng Đông Bắc Ấn Độ giáp biên giới xứ Nepal, dọc theo các nhánh sông thượng nguồn sông Gange (Hằng hà) [1, 2, 3].
Ngài thường được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (Buddha Gotama). Chữ "Phật" là tiếng gọi tắt của "Phật Đà", phiên âm từ chữ Phạn "Buddha" - người bình dân Việt Nam có nơi gọi là ông Bụt - nghĩa là người đã giác ngộ (Giác Giả) . Trong các kinh sách ghi lại, ngài thường tự gọi mình là Tagatatha (Như Lai). Ngài có rất nhiều đệ tử từ các quốc gia trong vùng, gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, lứa tuổi, nam nữ, và từ nhiều nguồn gốc tín ngưỡng khác nhau.
Đức Phật đã để lại một kho tàng quí giá gồm nhiều bài thuyết giảng (Kinh, Sutta), thường được gọi tổng quát là "tám vạn bốn ngàn" pháp môn, trong nhiều dịp giảng dạy cho hàng đệ tử, bậc thánh thanh văn, cư sĩ, ... Với sự phát triển và bành trướng của Tăng đoàn, Ngài đặt ra nhiều giới luật để tạo điều kiện thuận lợi trong công tác tu tập (Vinaya, Giới). Ngoài ra còn nhiều bài giảng đặc biệt khác mà về sau nầy được đúc kết lại trong bộ A Tỳ Đàm (Abhidhamma).
Kết Tập Đầu Tiên
Ba tháng sau khi Đức Phật tịch diệt, một đại hội các vị tu sĩ (Tỳ khưu, Bhikkhu) được tổ chức, ngày nay được gọi là Đại Hội Tăng Già I, tại vùng đồi núi ngoại thành Rajagaha (Vương Xá). Mục đích là để kết tập các bài kinh giảng và các điều luật thành một hệ thống chặt chẻ hơn [4]. Chủ trì phần Luật là Tỳ khưu Upali (Ưu Ba Ly), và chủ trì phần Kinh là Tỳ khưu Ananda (A Nan Đà), là người cận sự với Đức Phật và vì thế có nhiều dịp nhất để nghe và ghi nhớ các bài giảng của Ngài. Đại hội gồm khoảng 500 vị cao tăng duyệt lại các giới luật và các bài thuyết pháp, sắp xếp thành hai nhóm chính: Luật Tạng và Kinh Tạng. Qua những thu thập lúc đó, Kinh Tạng được phân chia làm 4 Bộ chính: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, và Tăng Chi bộ.
Kết Tập Lần Thứ 2
Trong 45 năm hoằng dương đạo pháp, Đức Phật đã đi nhiều nơi, giảng đạo cho nhiều người và kết nạp nhiều đệ tử. Các đệ tử của Ngài ở rải rác khắp nơi, không thể nào cùng về tham dự Đại hội đầu tiên. Do đó có thể có một số bài thuyết giảng và giới luật phụ do Đức Phật đặt ra đã không được kết tập trong kỳ Đại hội đó [4].
Vì vậy mà khoảng 100 năm sau, năm 383 trước CN, một đại hội kết tập kinh điển được tổ chức, theo yêu cầu của tăng chúng thành Vesali và Vajji [5]. Sau lần kết tập nầy, Luật Tạng được mở rộng với các giới luật mà các đại biểu cho rằng đã không được kết tập trong kỳ Đại Hội I, và một số các bài kinh giảng khác chưa kết tập, tạo thành một bộ kinh thứ 5 của Kinh Tạng (Tiểu Bộ).
Sau lần kết tập nầy, Luật Tạng và Kinh Tạng xem như đã thành hình, và các bài giảng có lẽ cũng giống như bài giảng mà chúng ta có được trong bộ Đại Tạng hiện nay [4].
Kết Tập Lần Thứ 3
Một trăm ba mươi năm sau đó, năm 253 trước CN, vua Asoka (A Dục) của Ấn Độ cho triệu tập Đại hội lần thứ III. Tiểu Bộ của Kinh Tạng lại được mở rộng và kết tập thêm nhiều bài kinh giảng khác. Quan trọng hơn hết là việc Đại hội đã đúc kết các bài giảng về tâm lý, thể tính và sự tướng của vạn pháp, tạo thành Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma, A Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp, Luận Tạng).
Kết Tập Lần Thứ 4
Khoảng năm 20 trước CN, 500 năm sau ngày Phật nhập Đại Niết Bàn, vua Vattagamani của Tích Lan (Sri Lanka) triệu tập Đại Hội Tăng Già IV tại Aluhivihara -- gần thành phố Kandy ngày nay [1], kết tập lại các phần Kinh, Luật, và đúc kết phần Thắng Pháp Tạng [6]. Để gìn giữ các bài giảng của Đức Phật dù đã kết tập nhưng chỉ truyền khẩu trong 500 năm qua, ba tạng kinh điển được cho viết lại trên một loại giấy bằng lá bối-đa khô [4, 10]. Từ đó Tam Tạng Pali được thành hình, và không còn thay đổi nào khác.
Trong thời kỳ gần đây, Miến Điện có tổ chức hai kỳ kết tập khác: kết tập lần thứ V, năm 1870, và lần thứ VI, năm 1954. Tuy nhiên các kỳ kết tập nầy chỉ để làm sáng tỏ các điểm chính trong kinh, nhưng không thay đổi gì trong bộ Tam Tạng [5].
Tam Tạng Kinh Điển
"Tạng" hay "Tàng" là giỏ chứa, chổ chứa, tiếng Pali gọi là Pitaka. Ngày xưa tại các chùa lớn thường có một thư viện gọi là "Tàng Kinh Các" để lưu trữ các bộ kinh quí. Tam Tạng theo tiếng Pali gọi là Tipitaka, Ba Giỏ Chứa (The Three Baskets), gồm có Luật Tạng (Vinaya Pitaka), Kinh Tạng (Sutta Pitaka), và Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Pitaka, còn gọi là Vi Diệu Pháp, hay Luận Tạng). Sau đây là sơ lược về các tạng nầy:
1. Luật Tạng (Vinaya Pitaka)
Tạng nầy bao gồm các giới luật và nghi lễ cho nam tu sĩ (Bhikkhu, Tỳ khưu) và nữ tu sĩ (Bhikkhuni, Tỳ khưu ni), cách thức gia nhập tăng đoàn, truyền giới luật, sinh hoạt tăng chúng, cách hành xử trong các trường hợp vi phạm giới luật, vv. Tạng nầy thường được chia làm 5 bộ [1, 7]:
1. Ba-la-di (Parajika),
2. Ba-dật-đề (Pacittiya),
3. Đại Phẩm (Mahavagga),
4. Tiểu Phẩm (Cullavagga), và
5. Toát Yếu (Parivara).
2. Kinh Tạng (Sutta Pitaka)
Gồm 5 bộ chính (Nikaya): Trường Bộ (Digha Nikaya), Trung Bộ (Majjhima Nikaya), Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya), Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya), và Tiểu Bộ (Khuddaka Nikaya). Trong hệ Sanskrit (Bắc Phạn), các bộ nầy được gọi là các bộ A Hàm (Agamas). Tuy nhiên, các bộ A Hàm nguyên thủy đã bị thất lạc và chỉ còn tìm thấy các bản kinh tiếng Sanskrit rời rạc, mà hiện nay chỉ còn các bộ Hán dịch từ nhiều nguồn gốc bộ phái và qua nhiều đời khác nhau [6].
Trường Bộ là tập hợp các bài kinh dài, gồm 34 bài kinh, đã được dịch sang Việt ngữ, trong đó có hai quyển phổ thông nhất: Kinh Đại Bát Niết Bàn (Maha Parinibanna Sutta) và Kinh Đại Quán Niệm (Maha Satipattana Sutta). Ngoài các bài thuyết giảng của Đức Phật, Bộ nầy cũng có các bài giảng của Đại Đức Sariputta (Xá Lợi Phất), vị đệ tử hàng đầu có tài thuyết giảng hùng biện nhất thời đó, và các vị đệ tử nỗi tiếng khác.
Trung Bộ gồm có 152 bài kinh sắp xếp trong 15 phẩm, theo từng chủ đề. Bộ kinh nầy rất phổ thông trong giới Phật tử sử dụng Anh ngữ và cũng đã được dịch sang Việt ngữ. Bản dịch Anh ngữ được hiệu chỉnh nhiều lần, và bản dịch mới nhất đã được hội Buddhist Publication Society, Tích Lan, xuất bản năm 1995. Các bài kinh quan trọng thường có liên quan đến phép hành thiền quán niệm (Satipattana Sutta), chính kiến (Sammaditthi), cách tịnh tâm (Kakacupama), cuộc đời Đức Phật (Ariyaparyesana), tứ diệu đế (Mahahatthipadopama), không tính (Culasunnata), quán niệm hơi thở (Anapanasati), vv... Có thể nói đây là một bộ kinh quan trọng nhất, bao gồm các bài giảng thiết yếu trên đường tu tập, thực hành lời Phật dạy.
Tương Ưng Bộ gồm 2,889 bài kinh ngắn, chia làm 5 chương và 56 phẩm. Đây là tập hợp các bài kinh có chủ đề giống nhau về một điểm thảo luận, hoặc về một nhân vật nào đó trong thời Đức Phật. Có những bài giảng quan trọng về 12 nhân duyên và về 37 phần bồ đề (37 phẩm trợ đạo).
Tăng Chi Bộ là bộ kinh dựa theo cách sắp xếp số học (pháp số), từ các chủ đề có liên quan đến 1 phần tử, 1 yếu tố, dần dần lên đến các chủ đề có 11 phần tử hay yếu tố. Vì vậy, bộ kinh được chia làm 11 chương, gồm 2,308 bài kinh.
Tiểu Bộ thật ra không phải là bộ sách nhỏ, mà là tập hợp 15 bộ sách nhỏ:
  1. Tiểu Tụng, Khuddaka Patha
  2. Pháp Cú, Dhammapada
  3. Phật Tự Thuyết, Udana
  4. Như Thị Ngữ (Phật Thuyết Như Vậy), Itivuttaka
  5. Kinh Tập, Sutta Nipata
  6. Thiên Cung Sự, Vimana Vatthu
  7. Ngạ Quỷ Sự, Peta Vatthu
  8. Trưởng Lão Tăng Kệ, Theragatha
  9. Trưởng Lão Ni Kệ, Therigatha
  10. Bổn Sanh, Jataka
  11. Nghĩa Thích, Niddesa
  12. Vô Ngại Giải Đạo, Patisambhidamagga
  13. Thí Dụ, Apadana
  14. Phật Sử, Buddhavamsa
  15. Sở Hạnh Tạng, Cariya Pitaka
3. Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Pitaka)
Còn gọi là Vi Diệu Pháp hay Luận Tạng, đây là tập hợp các bài giảng của Đức Phật về thể tính và sự tướng của vạn pháp, phân giải triết học và tâm lý học. Thắng Pháp Tạng gồm có 7 quyển:
1. Pháp tụ (Dhammasangani)
2. Phân biệt (Vibhanga)
3. Giới thuyết (Dhatukatha)
4. Nhân thi thiết (Puggala Pannatti)
5. Biện giải (Kathavathu)
6. Song luận (Yamaka)
7. Nhân duyên thuyết (Patthana).
4. Các thánh điển trọng yếu khác:
Ngoài Tam Tạng Kinh Điển còn có các bộ Chú Giải và Phụ Chú Giải Kinh Điển, và một số các tác phẩm Pali quan trọng khác cũng được học tập và lưu truyền cho đến ngày nay:
Đảo sử (Dipavamsa)
Đại sử (Mahavamsa)
Tiểu sử (Culavamsa)
Mi Lan Đa vấn đạo (Milindapanha)
Thanh tịnh đạo luận (Visuddhi Magga)
Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhammattha Sanghaha)
Đại Tạng Việt Ngữ
Mặc dù Phật Giáo là một tôn giáo lớn ở Việt Nam và đã có mặt lâu đời tại đất nước ta trên 18 thế kỷ, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một bộ Tam Tạng đầy đủ bằng chữ Việt. Điều nầy đã được ghi nhận từ đầu thập niên 1950 [5], mà đã 40 năm qua, công tác dịch thuật vẫn chưa hoàn tất. Thật ra, công trình dịch thuật sang chữ quốc ngữ từ các kinh điển Hán tạng bắt đầu trong thập niên 1930 với nhiều vị danh tăng và học giả trong các phong trào phục hưng Phật Giáo và chấn hưng Phật học [11].
Một chương trình phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam đã được tiến hành trở lại từ năm 1989, dựa trên các bộ chữ Pali và chữ Hán. Đến nay (1998), Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đã phát hành Trường Bộ (và Trường A Hàm), Trung Bộ (và Trung A Hàm), Tương Ưng Bộ (và Tạp A Hàm), Tăng Chi Bộ (và Tăng Nhất A Hàm) bằng Việt ngữ, cùng với các quyển trong Tiểu Bộ: Kinh Tập, Pháp Cú, Như Thị Ngữ, Phật Tự Thuyết, Trưởng Lão tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Bổn Sanh, v.v.
Hệ phái Nguyên Thủy (Nam Tông) Việt Nam đã ấn hành các bộ Vi Diệu Pháp do Hòa thượng Tịnh Sự dịch. Bộ Luật cơ bản đã được dịch từ các bản chữ Hán (Luật Tứ Phần Giới Bổn Như Thích, HT Hành Trụ dịch). Các quyển Thanh Tịnh Đạo (Ni sư Trí Hải dịch), Thắng Pháp Tập Yếu Luận (HT Minh Châu dịch) và Mi Lan Đa Vấn Đạo (Mi Tiên Vấn Đáp, HT Giới Nghiêm dịch) cũng đã được xuất bản trong những năm gần đây. Thêm vào đó, vào cuối năm 2005, Tỳ khưu Indacanda đã hoàn tất công tác dịch thuật toàn bộ Tạng Luật từ nguồn Pali.
-oOo-
Ghi chú: Toàn bộ kinh điển Pali ngữ và bản dịch Anh ngữ đã được Hội Kinh Điển Pali (Pali Text Society) lần lượt xuất bản trong 100 năm qua. Xin xem bài giới thiệu bằng Anh ngữ tại: http://zencomp.com/greatwisdom/ebud/ebsut028.htm

Tham Khảo
[1] Narada Mahathera (1980), The Buddha and His Teachings, Buddhist Publication Society, Sri Lanka (Đức Phật và Phật Pháp, bản dịch Việt ngữ của Phạm Kim Khánh)
[2] Thích Nhất Hạnh (1992), Đường Xưa Mây Trắng, Lá Bối, France
[3] Sister Vijira and Francis Story (1988), The Maha Parinibbana Sutta, Buddhist Publication Society, Sri Lanka
[4] Bodhesako (1984), Beginnings: The Pali Suttas, Buddhist Publication Society, Sri Lanka
[5] Thích Đức Nhuận (1983), Phật Học Tinh Hoa, Phật Học Viện Quốc Tế, USA
[6] Christmas Humprhey (1962), Buddhism, Penguin Books, UK
[7] Russell Webb (1991), An Analysis of The Pali Canon, Buddhist Publication Society, Sri Lanka
[8] Thích Chơn Thiện (1991), Tăng Già Thời Đức Phật, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Vietnam
[9] Phạm Kim Khánh (1997), Hành Hương Xứ Phật, Trung Tâm Narada, Seatle, USA
[10] H.W. Schuman, The Historical Buddha (Đức Phật Lịch Sử, bản dịch Việt ngữ của Trần Phương Lan, Viện Nghiên Cứu Phật Học, Sài Gòn, 1997).
[11] Nguyễn Lang (1985), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập 3, Lá Bối, France.
Bình Anson,
Mùa Phật Đản 1995, Perth, Western Australia
Bổ sung: tháng 4-2006

Phụ chú:

Kinh điển Đại Thừa (Mahayana, Bắc Tông)

Kinh điển Đại Thừa xuất hiện về sau nầy, vào khoảng đầu Công nguyên (CN) -- 300 đến 700 năm sau ngày Phật nhập Đại Niết bàn, không rõ nguồn gốc xuất xứ với nhiều giả thuyết khác nhau, không biết do ai kết tập vào thời kỳ nào, ban đầu là vài bộ kinh ngắn rồi dần dà xuất hiện các bộ lớn hơn với văn phong không đồng nhất, và ngày nay cũng không còn nguyên bản trọn vẹn. Một số đã được dịch sang chữ Hán và chữ Tây Tạng qua nhiều thời kỳ khác nhau bởi nhiều dịch giả thuộc những tông phái khác nhau, và được lưu truyền đến ngày nay. Một số kinh điển Hán tự khác thì lại không có nguồn gốc rõ ràng, mặc dù lấy danh là lời Phật dạy nhưng có lẽ đã được trước tác tại Trung Hoa trong thời kỳ Phật giáo mới được phát triển tại đó.
Kinh điển Đại Thừa là một tập hợp các bài giảng của Đức Phật, các luận giải của tăng sĩ, và ngữ lục của các tổ sư. Ngoài tạng Luật -- trên cơ bản rất tương tự với tạng Luật Pali, còn có tạng Kinh gồm có các bộ A Hàm -- dịch thuật từ nhiều nguồn khác nhau -- và các kinh điển mới, và tạng Luận gồm các tác phẩm chú giải và luận thuyết của các vị tăng sĩ Đại thừa về sau nầy. Có thể nói tính đa dạng và phong phú của kinh điển Đại thừa là kết quả của một sự dung nạp hỗn độn, không có hệ thống và tiêu chuẩn rõ ràng, các tài liệu về Phật giáo -- hoặc có vẻ mang tính cách Phật giáo nhưng lại pha trộn các giáo thuyết khác -- xuất hiện rãi rác trong các thế kỷ đầu Công nguyên trong thời kỳ hình thành tông phái nầy.
Dưới đây là liệt kê sơ lược danh sách kinh điển Phật Giáo Đại Thừa [a,b]:
1. Trước thời Long Thọ (Nagarjuna, sơ tổ của Đại thừa Phật giáo, thế kỷ III CN):
Kinh Đại phẩm Bát Nhã
Kinh Tiểu phẩm Bát Nhã
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh Hoa Nghiêm
Kinh Đại Vô Lượng Thọ
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội
Kinh Duy Ma Cật
Trước tác của Ngài Mã Minh (Asvaghosa, đầu Công nguyên):
Phật sở hạnh tán
Đại Trang Nghiêm luận
Thập Bất thiện nghiệp đạo
Lục thú luân hồi
Sự sư pháp Ngũ thập tụng
Ni Kiền Tử vấn vô ngã nghĩa
Đại tôn địa huyền văn bản luận
Đại Thừa khởi tín luận
2. Thời Long Thọ (Nagarjuna), Đề Bà (Deva), Bạt Đà La (Bhadra):
2.1 Ngài Long Thọ trước tác nhiều bộ luận, nhưng dịch sang Hán gồm:
Trung quán luận
Bồ đề tâm ly tướng luận
Thập nhị môn luận
Hồi tránh luận
Đại trí độ luận
Phương tiện tâm luận
Thập trụ Tỳ Bà Sa luận
Khuyến phát chư vương yếu kệ
Thập bát Không luận
Tán pháp giới tụng
Đại thừa phá hữu luận
Quảng đại phát nguyện tụng
Bồ đề tư lương luận
2.2 Ngài Đề Bà trước tác:
Bách luận
Bách tự luận
Quảng bách luận
2.3 Ngài Bạt Đà La trước tác:
Chú thích Trung luận
3. Sau thời Long Thọ:
Kinh Thắng Man
Kinh Giải Thâm Mật
Kinh Đại Bát Niết Bàn (Đại thừa Niết Bàn)
Kinh Lăng Già
4. Thời Vô Trước (Asanga, thế kỷ IV-V CN):
4.1 Trước tác của Ngài Di Lặc (Maitreya):
Du Già Sư Địa luận
Đại Thừa Trang nghiêm kinh luận
Thập địa kinh luận
Trung biên phân biệt luận
4.2 Trước tác của Ngài Vô Trước (Asanga):
Hiển dương Thánh giáo luận
Kim Cang Bát nhã Ba la mật đa kinh luận
Nhiếp Đại thừa luận
Thuận Trung luận
Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma tạp luận
4.3 Trước tác của Ngài Thế Thân (Vasubandhu) thì rất nhiều, nhưng các bộ sau đây đã dịch sang Hán:
A Tỳ Đạt Ma Câu Xá luận
Nhiếp Đại Thừa luận thích
A Tỳ Đạt Ma Câu Xá bản tụng
Thập địa kinh luận
Duy thức Tam thập tụng
Diệu Pháp Liên Hoa kinh Ưu Bà Đề Xá
Duy thức Nhị thập tụng
Vô Lượng Thọ kinh Ưu Bà Đề Xá
Đại Thừa Bách pháp Minh môn luận
Chuyển Pháp luân Ưu Bà Đề Xá
Đại Thừa Ngũ uẩn luận
Kim Cương Bái nhã Ba la mật kinh luận
Phật tính luận
Lục môn giáo thọ tập định luận.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/2/2016.MHDT.

Sunday, January 24, 2016

Friday, January 1, 2016